Chính sách pháp luật quan trọng có hiệu lực trong tháng 6 năm 2026

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 06 NĂM 2026

UBND XÃ TIÊN ĐIỀN

VĂN PHÒNG HĐND-UBND XÃ

 

 

   

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG

CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 06 NĂM 2026

(Tài liệu phổ biến trong sinh hoạt Ngày pháp luật tháng 06 năm 2026)

 

 

Phổ biến, giáo dục pháp luật qua những hình thức nào?


 

Trong tháng 06/2026 có hàng loạt chính sách mới quan trọng, thiết thực đối với đời sống hằng ngày có hiệu lực:

1. Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng và sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng là một trong số những điểm mới của Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP.

Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025. Sau đây là một số điểm mới của Nghị định 144/2026/NĐ-CP:

1.1. Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: “3a. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.”.

Về các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP như sau: “đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi".

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 14 Điều 4 đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như sau:

“14. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô được quy định tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định này.

Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh sản phẩm xuất khẩu tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô trong từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục gửi Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.”.

1.2. Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c của khoản 2 Điều 23 quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:

2. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. 

Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:

a) Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định này (nếu có).

Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”.

“c) Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.".

1.3. Sửa đổi quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt

Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. 

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. 

Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng. 

Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.”.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

2. Tăng mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp kể từ ngày 25/06/2026.

Ngày 06/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Nghị định được ban hành nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả xử lý vi phạm hành chính; góp phần phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học.

Nghị định có một số nội dung đáng chú ý sau:

2. 1. Quy định toàn diện các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp
          Nghị định quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và đang thực hiện trong lĩnh vực lâm nghiệp; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt và tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp.

2. 2. Mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam; đồng thời áp dụng đối với người có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Đối tượng áp dụng được quy định bao gồm: cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, ban quản lý rừng, tổ chức xã hội và các tổ chức khác hoạt động liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp

2. 3. Siết chặt xử lý các hành vi xâm hại rừng, khai thác lâm sản trái phép

Nghị định tập trung xử lý nghiêm các hành vi phá rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái pháp luật; vi phạm quy định về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; quản lý rừng, sử dụng rừng và phát triển rừng. Các hành vi vi phạm được phân loại cụ thể theo tính chất, mức độ, giá trị tang vật, diện tích rừng bị thiệt hại và hậu quả gây ra để áp dụng mức xử phạt phù hợp.

2.4. Quy định rõ tang vật, phương tiện vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả

Nghị định quy định cụ thể tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp như: lâm sản, động vật rừng, thực vật rừng, phương tiện vận chuyển, công cụ khai thác trái phép… Đồng thời áp dụng nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục hiện trạng ban đầu, buộc trồng lại rừng, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do vi phạm hành chính, buộc tiêu hủy tang vật vi phạm theo quy định pháp luật.

2.5. Tăng cường trách nhiệm của các lực lượng chức năng trong kiểm tra, xử lý vi phạm

          Nghị định quy định rõ thẩm quyền xử phạt, lập biên bản vi phạm hành chính của lực lượng kiểm lâm và các cơ quan có liên quan; tạo cơ sở pháp lý để tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về lâm nghiệp, bảo đảm công tác quản lý nhà nước về rừng được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/06/2026.

3. Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) được áp dụng cơ chế quản lý tài chính mới từ 22/6.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2026/NĐ-CP quy định một số nội dung về cơ chế quản lý tài chính, đánh giá, xếp loại doanh nghiệp đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC).

Theo Nghị định, VNX và VSDC thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đồng thời, hai đơn vị phải xác định rõ các xung đột lợi ích có thể phát sinh khi đầu tư, xây dựng biện pháp kiểm soát và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi triển khai.

Về quản lý doanh thu, doanh thu của VNX gồm doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ như quản lý thành viên, tổ chức thị trường và các hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn có doanh thu từ dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ hạ tầng công nghệ cho thị trường chứng khoán và các khoản thu từ đầu tư vốn vào công ty con.

Đối với VSDC, Nghị định quy định chi tiết nhiều nguồn thu từ hoạt động nghiệp vụ như đăng ký chứng khoán, lưu ký, chuyển khoản chứng khoán, thực hiện quyền, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán, quản lý tài sản ký quỹ, vay và cho vay chứng khoán. Đáng chú ý, doanh thu còn bao gồm hoạt động lưu ký, thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.

Ngoài các khoản doanh thu tài chính theo quy định chung, VSDC được hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính đối với lãi tiền gửi phát sinh từ hoạt động thanh toán hộ cổ tức, gốc, lãi và tiền mua lại các loại trái phiếu, chứng khoán.

Về chi phí, Nghị định cho phép VSDC được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản trích lập Quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ và chi phí chuyển công ty con của VNX liên quan hoạt động chuyển quyền sở hữu chứng khoán ngoài hệ thống giao dịch.

Nghị định 145/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/6/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026.

4. Từ ngày 01/06/2026, các tổ chức, cá nhân muốn gắn nhãn Halal cho sản phẩm, dịch vụ của mình phải công bố tiêu chuẩn Halal áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ đó. 

Chính phủ ban hành Nghị định 127/2026/NĐ-CP quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal. Nghị định này quy định về quản lý chất lượng và các chính sách hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal bao gồm: quy định về yêu cầu chất lượng, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, hoạt động thử nghiệm, chứng nhận Halal, kiểm tra, xử lý vi phạm quản lý chất lượng và chính sách hỗ trợ đối với sản phẩm, dịch vụ Halal.

Tại Điều 3 Nghị định quy định: Yêu cầu Halal là tập hợp các quy tắc, điều kiện về thành phần, nguyên liệu, quá trình sản xuất, chế biến, bao gói, ghi nhãn, bảo quản và vận chuyển được quy định cụ thể trong các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal; Halal là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập có nghĩa là hợp pháp, được phép dựa trên việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu Halal được quy định trong tiêu chuẩn công bố áp dụng; Sản phẩm Halal là sản phẩm đã được đánh giá và xác nhận đáp ứng đầy đủ các yêu cầu Halal theo tiêu chuẩn công bố áp dụng; Dịch vụ Halal là bất kỳ hoạt động nào liên quan đến các sản phẩm Halal như kinh doanh, vận chuyển, bảo quản, đóng gói, đóng kiện, trưng bày, xử lý và các hoạt động khác có liên quan.

Nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal được quy định tại Điều 4 như sau:

- Tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác có liên quan, đồng thời tuân thủ các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và không phân biệt đối xử trong mọi hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động đánh giá sự phù hợp Halal. Tính thống nhất được thể hiện qua việc áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình và yêu cầu Halal trên phạm vi toàn quốc. Tính minh bạch được đảm bảo thông qua việc công khai, dễ tiếp cận các thông tin về chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận, danh sách các tổ chức chứng nhận Halal được công nhận hoặc thừa nhận, và các thông tin liên quan khác.

- Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn và quy trình quản lý Halal của Việt Nam phải được thực hiện trên nguyên tắc hài hòa, ưu tiên tham chiếu và áp dụng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và thông lệ quốc tế được thừa nhận rộng rãi về Halal bao gồm tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và Viện Tiêu chuẩn và Đo lường của các quốc gia Hồi giáo (SMIIC), các hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex Alimentarius Commission) có liên quan đến thực phẩm Halal, các yêu cầu kỹ thuật và quy định của các thị trường xuất khẩu trọng điểm.

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng Hồi giáo, đối với các sản phẩm, dịch vụ Halal; đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ Halal tuân thủ pháp luật. Ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng mang dấu hiệu Halal, gian lận thương mại, quảng cáo sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về tính Halal của sản phẩm, dịch vụ.

- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ Halal; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Halal Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal được thực hiện trên cơ sở đánh giá rủi ro, trong đó ưu tiên tập trung nguồn lực kiểm soát vào các công đoạn, quy trình, thành phần hoặc yếu tố có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến tính Halal, an toàn và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ.

- Đảm bảo tính nguyên vẹn, tính xác thực và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm Halal trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ khâu lựa chọn, khai thác, nuôi trồng, thu mua nguyên liệu đầu vào, qua các công đoạn sản xuất, chế biến, đóng gói, cho đến khâu vận chuyển, bảo quản, phân phối và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2026.

- HẾT –

Xem nhiều nhất

Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo

Chính phủ ban hành Nghị định Số: 156 /2026/NĐ- của Chính Phủ ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo 29/05/2026