CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 04 NĂM 2026

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 04 NĂM 2026

UBND XÃ TIÊN ĐIỀN

VĂN PHÒNG HĐND-UBND XÃ

 

 

   

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG

CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 04 NĂM 2026

(Tài liệu phổ biến trong sinh hoạt Ngày pháp luật tháng 04 năm 2026)

 


 

Trong tháng 04/2026 có hàng loạt chính sách mới quan trọng, thiết thực đối với đời sống hằng ngày có hiệu lực:

1. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động Sở hữu trí tuệ (SHTT); thúc đẩy khai thác thương mại quyền SHTT; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh;... là những nội dung chủ yếu trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT.

Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026. Luật sửa đổi đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong tiến trình xây dựng khung pháp lý hiện đại, đưa quyền sở hữu trí tuệ từ vai trò bảo hộ pháp lý truyền thống trở thành nguồn lực kinh tế trung tâm của nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo.

Luật có những nội dung chủ yếu sau:

1.1. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động SHTT

Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Luật số 131/2025/QH15 đã rút ngắn đáng kể thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp, đơn giản hóa thủ tục xác lập, đăng ký quyền, đồng thời quy định một số biện pháp để bảo đảm thực hiện các yêu cầu mới về thời hạn này, cụ thể:

Thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp ở mỗi khâu đều giảm, đáng chú ý nhất là thời hạn thẩm định nội dung đơn sáng chế đã giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng, đơn nhãn hiệu giảm từ 09 tháng xuống 05 tháng, đơn kiểu dáng công nghiệp giảm từ 07 tháng xuống 05 tháng, thời gian công bố đơn giảm từ 02 tháng xuống còn 01 tháng, v.v.. 

Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định về cơ chế thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu (thẩm định nội dung trong thời hạn 03 tháng khi đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định). Hiện chỉ một số rất ít quốc gia có cơ chế thẩm định nội dung đơn nhanh dưới 03 tháng. Luật yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, đơn giản hóa quy trình xử lý đơn, tăng cường hậu kiểm, ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo để thực hiện được các quy định về thời hạn trên, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động SHTT.

1.2. Thúc đẩy khai thác thương mại quyền SHTT

Luật đã quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền SHTT nhằm biến quyền SHTT thành tài sản sinh lời, góp phần phát triển kinh tế- xã hội; quy định rõ chủ sở hữu được sử dụng quyền SHTT để thực hiện giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư, v.v theo quy định của pháp luật cũng như chính sách khuyến khích khai thác quyền SHTT, sử dụng quyền SHTT để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn.

Để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho các hoạt động khai thác thương mại quyền SHTT, Luật cũng quy định hình thành cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền SHTT để minh bạch thị trường, phát triển tổ chức trung gian (định giá, môi giới,), v.v.

Luật cũng đã quy định trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với quyền SHTT chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán. Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen quản lý quyền SHTT như một tài sản quan trọng. Tình trạng quên không thực hiện việc duy trì hoặc gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ vẫn còn khá phổ biến.

Đây là những nội dung khởi đầu của bước chuyển trọng tâm từ “bảo hộ quyền” sang “khai thác, sử dụng quyền như một tài sản có giá trị”, giảm tình trạng “bằng độc quyền để treo”, mở rộng nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

1.3. Bảo hộ đối tượng mới

Luật mở rộng bảo hộ cho một số đối tượng mới, cụ thể:

- Bổ sung cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho phần không tách rời được của sản phẩm (bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần) và mở rộng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý (ví dụ: giao diện đồ họa người dùng (GUI), icon, v.v);

- Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.

1.4. Xử lý vấn đề mới phát sinh

Luật số 131/2025/QH15 lần này cũng đưa ra những quy định để xử lý một số vấn đề phát sinh do sự phát triển của công nghệ, nổi bật là các vấn đề liên quan đến hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), cụ thể:

- Quy định khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả và tuân thủ các quy định của Chính phủ;

- Quy định về vấn đề bảo hộ SHTT đối với đối tượng do AI tạo ra hoặc có sử dụng AI trong quá trình tạo ra, cụ thể là:

+ Bổ sung quy định từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện chủ thể tạo ra không phải là con người, phù hợp với chính sách chỉ bảo hộ quyền SHTT cho các đối tượng do con người tạo ra (tác giả là con người);

+ Giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với đối tượng quyền SHTT được tạo ra có sử dụng AI.

Bên cạnh đó, về vấn đề đăng ký nhãn hiệu chứa tên quốc gia Việt Nam, Luật cũng đã bổ sung quy định kiểm soát việc đăng ký đối với nhãn hiệu này.

Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT Luật bổ sung thêm các chế tài, biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số, quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền SHTT; đồng thời nâng mức bồi thường thiệt hại theo luật định để tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn.

2. Luật Chuyển giao công nghệ 2025: Mở rộng không gian phát triển, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của hành lang pháp lý về chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ có hiệu lực từ ngày 1-4-2026 (riêng một số quy định về thủ tục chấp thuận và cấp phép chuyển giao công nghệ có hiệu lực ngay sau khi Quốc hội thông qua). Luật có những điểm mới cụ thể như sau:

2.1. Mở rộng đối tượng công nghệ được chuyển giao

Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi đã mở rộng và cập nhật đối tượng công nghệ được chuyển giao, thay các thuật ngữ cũ như “bản vẽ” bằng “thiết kế”, “phần mềm máy tính” bằng “phần mềm”, đồng thời bổ sung thêm các đối tượng mới như mô hình và thuật toán.

2.2. Bổ sung chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ

Khoản 2 Điều 1 Luật Chuyển đổi công nghệ số sửa đổi 2025 đã bổ sung hệ thống chính sách ưu tiên và khuyến khích rõ ràng, cụ thể:

"- Ưu tiên chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, công nghệ phục vụ dự án quan trọng quốc gia; chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ cho địa bàn vùng miền núi, hải đảo.

- Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ chiến lược, chú trọng lan tỏa công nghệ chiến lược từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước

- Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước; việc chuyển giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, bảo đảm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Ưu tiên áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện pháp khuyến khích khác đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam."

2.3. Điều chỉnh rõ quyền chuyển giao công nghệ

Theo khoản 5 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025:

- Quy định rõ hình thức đồng ý của chủ sở hữu: Phải bằng văn bản hoặc hình thức hợp pháp khác.

- Bổ sung quyền của bên nhận: Được cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ theo quy định pháp luật.

- Làm rõ quyền sở hữu, sử dụng công nghệ: Được xác lập và bảo vệ theo pháp luật; quy định trường hợp nhiều chủ thể cùng sở hữu; đồng thời tách bạch quyền công nghệ với quyền sở hữu sản phẩm, thiết bị có tích hợp công nghệ.

Việc ban hành Luật được kỳ vọng tạo động lực mới cho hoạt động chuyển giao, lan tỏa và thương mại hóa công nghệ, đưa công nghệ vào sản xuất nhanh và hiệu quả hơn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.

3. Từ 20/4/2026, trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm số lượng hoặc không bảo đảm yêu cầu kĩ thuật theo quy định có thể bị phạt tới 40 triệu đồng.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 106/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Dưới đây là 7 điểm mới tại Nghị định 69/2026/NĐ-CP.

3.1. Bổ sung quy định về xử lý trong trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần

Khoản 1 Điều 2 Nghị định 69/2026/NĐ-CP đã bổ sung quy định:

6. Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nhiều lần đối với một hành vi vi phạm trong một cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy, chữa cháy thì không bị xử phạt từng hành vi vi phạm hành chính mà xử phạt một hành vi vi phạm hành chính áp dụng tình tiết tăng nặng.

3.2. Bổ sung nguyên tắc xử phạt đối với tổ chức, cá nhân thuê, mượn, ở nhờ nhà ở khi vi phạm quy định về PCCC và cứu nạn, cứu hộ

Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2026/NĐ-CP bổ sung khoản sau khoản 5 Điều 3 Nghị định 106/2025/NĐ-CP làm rõ trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức hoạt động trong cùng một cơ sở cũng như các trường hợp tổ chức, cá nhân thuê, mượn hoặc ở nhờ nhà ở. Theo đó, các chủ thể này sẽ bị xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính tương ứng với trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật về PCCC và cứu nạn, cứu hộ.

3.3. Bổ sung quy định về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

Một điểm mới đáng chú ý quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định 69/2026/NĐ-CP là việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và cứu nạn, cứu hộ có thể được thực hiện trên môi trường điện tử. Việc áp dụng hình thức xử lý này được thực hiện theo quy định tại Điều 28a và Điều 28b Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 190/2025/NĐ-CP. Điều này phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước. 

3.4. Bổ sung thêm một số hành vi bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực PCCC

Nghị định 69/2026/NĐ-CP bổ sung một số hành vi vi phạm mới trong lĩnh vực PCCC, cụ thể:

Căn cứ

Hành vi vi phạm

Mức phạt 

Khoản 1 Điều 7

Mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc không đủ đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Đồng thời buộc mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định

10 - 15 triệu đồng

Khoản 1 Điều 9

Không duy trì trữ lượng nước chữa cháy theo quy định và buộc duy trì đủ trữ lượng nước chữa cháy

03 - 05 triệu đồng

Khoản 1 Điều 5

Không xuất trình hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ phục vụ thanh tra về phòng cháy, chữa cháy

03 - 05 triệu đồng

3.5. Điều chỉnh thời gian áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động với một số hành vi vi phạm về PCCC

3.5.1 Đình chỉ hoạt động đối hành vi đưa công trình vào sử dụng khi chưa hoàn tất thủ tục về phòng cháy, chữa cháy

Điều 7 Nghị định 69/2026/NĐ-CP điều chỉnh giảm thời gian đình chỉ hoạt động tối thiểu đối với một số hành vi vi phạm về PCCC.

Cụ thể, hành vi đưa công trình, hạng mục công trình, phương tiện vào sử dụng khi chưa có văn bản nghiệm thu PCCC được điều chỉnh thời gian đình chỉ từ 03 - 06 tháng xuống 01 - 06 tháng.

Đối với hành vi đưa công trình thuộc diện phải thẩm định thiết kế PCCC vào hoạt động khi chưa có văn bản thẩm định thiết kế và nghiệm thu PCCC, thời gian đình chỉ được điều chỉnh từ 06 - 12 tháng xuống 03 - 12 tháng.

3.5.2 Đình chỉ hoạt động đối với vi phạm về lối thoát nạn

Khoản 2 Điều 11 Nghị định 69/2026/NĐ-CP điều chỉnh thời gian áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động đối với các hành vi vi phạm quy định về lối thoát nạn của nhà, công trình.

Theo quy định mới, hành vi không có đủ lối thoát nạn hoặc đường thoát nạn của nhà, công trình sẽ bị đình chỉ hoạt động từ 01 - 03 tháng. Trong khi đó, theo quy định trước đây, hành vi này có thể bị đình chỉ hoạt động từ 03 - 06 tháng.

3.5.3 Đình chỉ hoạt động đối với xây dựng nhà, công trình không bảo đảm khoảng cách phòng cháy, chữa cháy.

Khoản 4 Điều 12 Thông tư 69/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh giảm thời gian áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động đối với xây dựng nhà, công trình không bảo đảm khoảng cách phòng cháy, chữa cháy. Theo đó, thời gian đình chỉ hoạt động được giảm từ 06 - 12 tháng xuống còn 01 - 03 tháng.

3.6. Điều chỉnh mức phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm quy định về ngăn cháy

Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Nghị định 69/2026/NĐ-CP điều chỉnh và đơn giản hóa các mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về ngăn cháy trong công trình, cơ sở.

Hành vi vi phạm

Nghị định 106/2025/NĐ-CP

Nghị định 69/2026/NĐ-CP

Không duy trì bộ phận ngăn cháy

+ Phạt tiền từ 05 - 07 triệu đồng đối với hành vi không duy trì bộ phận ngăn cháy đã được thi công, lắp đặt, trừ hành vi không duy trì tường ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc sàn ngăn cháy. (khoản 2)

+ Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi không duy trì tường ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc sàn ngăn cháy. (khoản 5)

Áp dụng chung 01 mức phạt tiền đối với hành vi không duy trì vật liệu ngăn cháy hoặc cửa ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc màn ngăn cháy hoặc rèm ngăn cháy hoặc vật liệu chống cháy đã được trang bị, lắp đặt: Phạt tiền từ 05 - 07 triệu đồng 

Không duy trì tường ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc sàn ngăn cháy

+ Phạt tiền từ 20 - 25 triệu đồng đối với hành vi không có bộ phận ngăn cháy, trừ hành vi không có tường ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc sàn ngăn cháy. (khoản 4)

+ Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi không duy trì tường ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc sàn ngăn cháy. (khoản 5)

Áp dụng chung 01 mức phạt tiền đối với hành vi không trang bị, lắp đặt vật liệu ngăn cháy hoặc cửa ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc màn ngăn cháy hoặc rèm ngăn cháy hoặc vật liệu chống cháy: Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng

3.7. Bãi bỏ quy định về xử phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm về thoát nạn trong PCCC

Một điểm đáng chú ý khác của Nghị định 69/2026/NĐ-CP là bãi bỏ quy định về mức phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm quy định về thoát nạn trong phòng cháy, chữa cháy.

Trước đây, pháp luật quy định phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với các hành vi như không duy trì cửa đi đã được lắp đặt trên lối thoát nạn hoặc đường thoát nạn, hoặc khóa cửa đi lắp đặt trên lối thoát nạn, đường thoát nạn.

Nghị định số 69/2026/NĐ-CP ngày 06/3/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 106/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy (PCCC) và cứu nạn, cứu hộ sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026

4. Nghị định 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/04/2026 thay thế toàn bộ Nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã có nhiều thay đổi trong quản lý an toàn thực phẩm

Nghị định 46/2026/NĐ-CP mang lại những thay đổi lớn nhằm siết chặt quản lý an toàn thực phẩm, nổi bật là: thu hẹp tự công bố, mở rộng diện đăng ký hợp quy; bắt buộc áp dụng HACCP/GMP; đưa bao bì vào diện quản lý chặt; và ràng buộc trách nhiệm sàn Thương mại điện tử:

4.1. Thu hẹp cơ chế tự công bố, mở rộng diện phải đăng ký bản công bố hợp quy

Nghị định 46/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh theo hướng siết chặt tiền kiểm cơ chế công bố sản phẩm. Cụ thể, theo Điều 4 Nghị định 46/2026/NĐ-CP tổ chức, cá nhân đăng ký bản công bố hợp quy đối với thực phẩm có quy chuẩn kỹ thuật về chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn thuộc một trong các trường hợp sau:

- Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn;

- Phụ gia thực phẩm;

- Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm;

- Dụng cụ chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;

- Bao bì chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.

 Như vậy bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và các sản phẩm có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng phải đăng ký bản công bố hợp quy, thay vì chỉ tự công bố như trước.

4.2. Lần đầu tiên bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm được đưa vào diện quản lý chặt

Tại Nghị định 46/2026/NĐ-CP, nhóm sản phẩm này được xác định là đối tượng tiềm ẩn rủi ro, chịu sự quản lý chặt hơn về tiêu chuẩn kỹ thuật, hồ sơ và kiểm tra nhà nước, đặc biệt trong khâu nhập khẩu.

Cụ thể như

- Bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm phải đăng ký bản công bố hợp quy (Điều 4)

- Bao bì, dụng cụ tiếp xúc thực phẩm được thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm (Điều 20)

- Được UBND cấp tỉnh quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm (Điều 51)

4.3. Lần đầu thiết lập lộ trình bắt buộc áp dụng HACCP, GMP

So với Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Nghị định 46/2026/NĐ-CP kế thừa danh mục các trường hợp được miễn Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Tuy nhiên, điểm mới đáng chú ý là Nghị định 46 lần đầu tiên đặt ra lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm đối với một số nhóm sản phẩm có nguy cơ cao, trong đó trọng tâm là thực phẩm bảo vệ sức khỏe và phụ gia thực phẩm.

Theo quy định tại Điều 12, Điều 15 và Điều 54 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện áp dụng bắt buộc phải hoàn thành việc xây dựng và vận hành hệ thống quản lý an toàn thực phẩm phù hợp (như HACCP, GMP hoặc hệ thống tương đương) chậm nhất đến ngày 31/12/2026.

GMP (Good Manufacturing Practices - Thực hành sản xuất tốt); HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points - Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn) là hai hệ thống tiêu chuẩn quản lý an toàn thực phẩm quan trọng.

4.4. Mở rộng đối tượng và chuẩn hóa toàn bộ quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu

So với Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Nghị định 46/2026/NĐ-CP đã mở rộng rõ ràng phạm vi đối tượng phải kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm khi nhập khẩu. Theo quy định mới, ngoài thực phẩm và phụ gia thực phẩm, các bao bì, dụng cụ và vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm cũng chính thức thuộc diện kiểm tra bắt buộc khi nhập khẩu vào Việt Nam.

Không chỉ mở rộng đối tượng, Nghị định 46 còn chuẩn hóa toàn bộ quy trình kiểm tra theo hướng chi tiết, thống nhất và có tính liên thông cao.

Từ Điều 19 đến Điều 28, Nghị định quy định đầy đủ các nội dung then chốt, bao gồm:

- Các trường hợp được miễn kiểm tra;

- Thẩm quyền của cơ quan kiểm tra nhà nước;

- Phương thức kiểm tra áp dụng (kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm);

- Thành phần hồ sơ tương ứng với từng phương thức kiểm tra;

- Trình tự tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, lấy mẫu, kiểm nghiệm;

- Thời hạn xử lý cụ thể ở từng khâu

- Cách thức thông báo kết quả để làm căn cứ thông quan.

Đặc biệt, Nghị định 46 phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong quy trình kiểm tra, từ cơ quan kiểm tra nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định, cơ quan hải quan đến chủ hàng hóa nhập khẩu, hạn chế tình trạng chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý như trước đây. Bên cạnh đó, các mốc thời gian giải quyết hồ sơ, trả kết quả kiểm nghiệm và ban hành thông báo đạt hoặc không đạt yêu cầu nhập khẩu đều được quy định cụ thể.

4.5. Lần đầu ràng buộc trách nhiệm của sàn TMĐT đối với quảng cáo thực phẩm

Theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, việc quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe và một số nhóm thực phẩm đặc thù chỉ được thực hiện sau khi đã đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo. Trách nhiệm tuân thủ chủ yếu thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và đơn vị thực hiện quảng cáo.

Nghị định 46/2026/NĐ-CP tiếp tục kế thừa yêu cầu kiểm soát chặt nội dung quảng cáo, đồng thời có một điểm mới là lần đầu tiên xác lập trách nhiệm pháp lý trực tiếp của các chủ thể trung gian trong môi trường số, bao gồm chủ sở hữu sàn thương mại điện tử, ứng dụng giao dịch trực tuyến và nền tảng trung gian.

Cụ thể, theo khoản 6 Điều 52 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (bao gồm cả ứng dụng giao đồ ăn) có trách nhiệm:

- Xây dựng cơ chế kiểm duyệt, yêu cầu người bán cung cấp và công khai các giấy tờ pháp lý về sản phẩm theo quy định;

- Hợp tác với cơ quan quản lý nhà nước, kịp thời gỡ bỏ các sản phẩm vi phạm khi có yêu cầu;

- Chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp không thực hiện các biện pháp kiểm duyệt cần thiết, để xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

4.6. Quy định rõ về thời điểm truy xuất nguồn gốc sản phẩm

Theo Điều 42 và Điều 43 Nghị định 46/2026/NĐ-CP, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải lưu trữ đầy đủ thông tin truy xuất nguồn gốc trong suốt quá trình lưu thông của sản phẩm, đồng thời kích hoạt ngay việc truy xuất khi phát hiện hoặc có thông báo về nguy cơ thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Trường hợp xác định thực phẩm không đáp ứng yêu cầu an toàn, cơ sở có nghĩa vụ thực hiện thu hồi, xử lý sản phẩm và phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quản lý rủi ro. Cách tiếp cận này nhằm tăng khả năng phát hiện sớm và xử lý kịp thời các sự cố an toàn thực phẩm trong thực tiễn.

- HẾT –

Tệp đính kèm:

Xem nhiều nhất