CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 03 NĂM 2026

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 03 NĂM 2026

UBND XÃ TIÊN ĐIỀN

VĂN PHÒNG HĐND&UBND XÃ

 

 

   

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG

CÓ HIỆU LỰC TRONG THÁNG 03 NĂM 2026

(Tài liệu phổ biến trong sinh hoạt Ngày pháp luật tháng 03 năm 2026)

 

 


 

Trong tháng 03/2026 có hàng loạt chính sách mới quan trọng, thiết thực đối với đời sống hằng ngày có hiệu lực:

1. Luật Trí tuệ nhân tạo chính thức có hiệu lực, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế cho nền kinh tế số, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong việc chủ động làm chủ, quản trị và khai thác hiệu quả công nghệ mang tính nền tảng của kỷ nguyên mới

Một nội dung quan trọng của luật là Điều 7 quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo. Trong đó, đáng chú ý là việc cấm lợi dụng AI để lừa dối, thao túng nhận thức con người; khai thác điểm yếu của các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật; tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Luật cũng nghiêm cấm thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu trái quy định pháp luật; cản trở hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, kiểm soát của con người đối với hệ thống AI; che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch trong hoạt động AI.

Bên cạnh đó, Điều 9 của luật quy định phân loại hệ thống AI theo ba mức rủi ro: Thấp, trung bình và cao, để áp dụng các nghĩa vụ quản lý tương ứng. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm quản lý chặt chẽ các hệ thống AI có rủi ro cao, đồng thời không kìm hãm đổi mới sáng tạo đối với các ứng dụng rủi ro thấp.

Luật Trí tuệ nhân tạo cũng thiết lập cơ chế xử lý vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại rõ ràng. Theo Điều 29, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của luật tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật dân sự.

Đáng lưu ý, ngay cả trong trường hợp hệ thống AI rủi ro cao được vận hành đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại, bên triển khai vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của các chủ thể tham gia phát triển và ứng dụng AI.

Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp bên triển khai, nhà cung cấp có lỗi trong việc để hệ thống bị xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.

Về tác động dài hạn, Luật Trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng tạo ra bước đột phá chiến lược, giúp Việt Nam chuyển từ quốc gia tiêu thụ sang quốc gia kiến tạo giá trị, thông qua việc giải quyết các điểm nghẽn cốt lõi về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và tài chính.

Về kinh tế, Luật thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua các cơ chế ưu đãi, quỹ phát triển AI. Về xã hội, Luật góp phần xác lập hành lang pháp lý nhân văn, bảo vệ quyền lợi công dân trước các rủi ro đạo đức do AI gây ra.

Đặc biệt, luật định hướng làm chủ các mô hình nền tảng, mô hình ngôn ngữ lớn và dữ liệu bản địa, giúp AI hiểu sâu sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời củng cố vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số.

Có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là cam kết chiến lược của Việt Nam trong việc bảo vệ con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiến tạo một tương lai số chủ động, an toàn và nhân văn.

2. Cắt giảm mạnh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Đơn giản hóa thủ tục Đầu tư ra nước ngoài là một trong những điểm mới của Luật Đầu tư năm 2025.

Luật Đầu tư năm 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV thông qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao. Luật được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững, phù hợp với các chủ trương lớn của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới. Luật Đầu tư năm 2025 kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Đầu tư hiện hành, đồng thời có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Một số điểm mới của Luật Đầu tư 2025 như sau:

2.1. Cắt giảm mạnh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Thực hiện tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 198/2025/QH15, Chính phủ đã rà soát và điều chỉnh danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh. Cụ thể:

Cắt giảm: Bãi bỏ 38 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Sửa đổi: Điều chỉnh phạm vi quản lý của 20 ngành nghề khác.

Chuyển đổi phương thức quản lý: Chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” (cấp phép, chứng nhận) sang “hậu kiểm” (công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh) đối với nhiều ngành nghề, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí gia nhập thị trường.

2.2. Đơn giản hóa thủ tục Đầu tư ra nước ngoài: Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế, Luật Đầu tư sửa đổi 2025 đã bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài và thu hẹp diện dự án phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Chính phủ sẽ có quy định chi tiết về các dự án được miễn thủ tục cấp phép, đồng thời bổ sung các biện pháp giám sát về quản lý ngoại hối và an toàn tài chính quốc gia.

2.3. Về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

– Bổ sung quy định về cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng (Điều 6). Đồng thời, bổ sung nội dung Chính phủ quy định xử lý đối với dự án đầu tư sản xuất thiết bị điện tử cho thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam chỉ để xuất khẩu đã được đăng ký hoặc chấp thuận, cho phép bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2025 (khoản 16 Điều 52) để bảo đảm thực hiện theo đúng tinh thần Nghị quyết số 173/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV về cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng gây nghiện, gây tác hại cho sức khỏe con người, bảo đảm sức khỏe cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội.

– Sửa đổi, bổ sung quy định nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, làm cơ sở để rà soát, sàng lọc và phân định các ngành, nghề đầu tư kinh doanh thực sự cần thực hiện “tiền kiểm” và chuyển sang cơ chế “hậu kiểm” tại khoản 9 Điều 3 như sau: “Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà tổ chức, cá nhân phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, không bao gồm các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền ban hành về chất lượng sản phẩm, dịch vụ.”.

Trên cơ sở đó, Luật đã rà soát, cắt giảm 38 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không đáp ứng các tiêu chí, điều kiện theo quy định tại Điều 7 Luật Đầu tư và sửa đổi phạm vi của 20 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

2.4. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

Luật này đã sửa đổi, bổ sung quy định về ngành, nghề ưu đãi đầu tư tại Điều 15, 16 theo hướng xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư là các ngành, nghề được ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và công nghiệp bán dẫn; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế số, phát triển các mô hình kinh tế mới; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, thu hút đầu tư quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia;… để đảm bảo phù hợp với định hướng xây dựng Luật chỉ “quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội”, tạo sự chủ động của Chính phủ trong việc xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư phù hợp với từng thời kỳ.

Sửa đổi, bổ sung quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17 Luật Đầu tư để giao Chính phủ quy định cụ thể quy mô vốn đầu tư và tiến độ giải ngân của dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư đặc biệt phù hợp với tính chất đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.

2.5. Về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư

2.5.1 Thu hẹp và làm rõ phạm vi các dự án phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư. Theo đó, Điều 24 Luật quy định rõ việc không thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư trong các trường hợp sau:

a) Dự án đầu tư của cá nhân không thuộc diện phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi được quyết định cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp;

c) Dự án khai thác khoáng sản thuộc diện đấu giá quyền khai thác khoáng sản; dự án khai thác khoáng sản để phục vụ cho các dự án, công trình, hạng mục công trình, thực hiện các biện pháp huy động khẩn cấp theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản;

d) Dự án đầu tư khác theo quy định của Chính phủ.

2.5.2. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền chấp thuận chủ trương đầu tư

Điều 25 Luật quy định thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phân cấp toàn bộ dự án thuộc thẩm quyền của Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ để đẩy nhanh quá trình thực hiện thủ tục, trừ dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.

Ngoài ra, Luật sửa đổi quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thay cho UBND cấp tỉnh.

Luật Đầu tư năm 2025 có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2026.

3. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025: Kế thừa nền tảng, hoàn thiện hành lang pháp lý trong kỷ nguyên số.

Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước năm 2025 ngày 10/12/2025 gồm 05 chương và 28 Điều trong đó có một số nội dung cơ bản và điểm mới đáng lưu ý.

3.1. Bổ sung 02 khái niệm mới về “mạng LAN độc lập”, “văn bản điện tử bí mật nhà nước”

Đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia,Cụ thể Luật đã bổ sung và làm rõ 02 khái niệm mới về mạng LAN độc lập và văn bản điện tử bí mật nhà nước.

Mạng LAN độc lập và văn bản điện tử bí mật nhà nước để bao quát cả dữ liệu số, dữ liệu điện tử. Theo đó, mạng LAN độc lập là mạng máy tính cục bộ được thiết lập, giới hạn trong một trụ sở cơ quan, tổ chức, không kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông, mạng máy tính khác có kết nối ra ngoài trụ sở đó và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống kết nối, tấn công, thu thập thông tin trái phép. Văn bản điện tử bí mật nhà nước là văn bản chứa bí mật nhà nước dưới dạng dữ liệu số được người có thẩm quyền theo quy định của Luật này xác định.

Việc bổ sung hai khái niệm trên giúp hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với yêu cầu bối cảnh mới giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ bí mật nhà nước được chứa đựng trong tài liệu (gồm cả văn bản giấy, văn bản điện tử), vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác tránh bị lộ, bị mất gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

3.2. Bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm

Luật quy định nghiêm cấm các hành vi: “xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước” và “sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước”. Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia, Luật đã bãi bỏ quy định nghiêm cấm soạn thảo, lưu giữ, truyền đưa bí mật nhà nước trên mạng LAN độc lập không phải mã hóa theo quy định của pháp luật về cơ yếu và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Quy định các hành vi bị nghiêm cấm nhằm phòng, chống hoạt động thu thập, đánh cắp bí mật nhà nước, phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước khi ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước và có căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

3.3. Phạm vi bí mật nhà nước được quy định khái quát, Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục bí mật nhà nước, cụ thể:

Phạm vi bí mật nhà nước là giới hạn thông tin quan trọng thuộc các lĩnh vực chưa được công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Theo đó, trên cơ sở phân loại lĩnh vực theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy sau sắp xếp tinh gọn (13 lĩnh vực), phạm vi bí mật nhà nước theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 được quy định theo hướng khái quát để nhận diện bí mật nhà nước trong từng lĩnh vực nhằm giúp cho việc xây dựng danh mục bí mật nhà nước được chính xác, toàn diện. Trên cơ sở phạm vi bí mật nhà nước và phân loại bí mật nhà nước theo quy định của Luật, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành danh mục bí mật nhà nước quy định cụ thể từng mức độ mật của bí mật nhà nước theo trình tự, thủ tục chặt chẽ quy định tại Luật.

3.4. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa thủ tục hành chính
          Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025 bãi bỏ thủ tục ủy quyền cho phép sao, chụp đối với cấp phó; bổ sung người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng ở cơ quan có tổ chức đảng song song với chính quyền có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
Về mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước, để phù hợp với thực tiễn và đơn giản thủ tục hành chính trong nội bộ, Luật đã bỏ thủ tục xin phép khi mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước và nghiên cứu. Đồng thời bổ sung quy định trách nhiệm của người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ, biện pháp bảo vệ, nội dung liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao và việc bàn giao lại cơ quan sau khi xử lý xong công việc tại Nghị định của Chính phủ.

Bổ sung quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với dự thảo văn bản chứa nội dung bí mật nhà nước. Đây là quy định mới nhằm bảo vệ toàn diện bí mật nhà nước (cả văn bản dự thảo và văn bản được ký, ban hành chính thức). Đồng thời bổ sung quy định giao Chính phủ quy định việc gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với văn bản điện tử bí mật nhà nước.

3.5. Bổ sung một số chủ thể có thẩm quyền cho phép cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội có thẩm quyền cho phép cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài để phù hợp với lĩnh vực chỉ đạo, điều hành của từng chủ thể. Đồng thời, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cho phép sao, chụp bí mật nhà nước thì có thẩm quyền cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là người Việt Nam. Các quy định này nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện và phù hợp với thực tiễn.

3.6. Về giải mật, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước

Bổ sung thẩm quyền giải mật cho cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước để phù hợp với chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền; bãi bỏ thủ tục thành lập hội đồng giải mật đối với trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác mà bí mật nhà nước đó đã được cơ quan, tổ chức khác giải mật nhằm cắt giảm thủ tục hành chính nội bộ.
Việc tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật, độ Mật không phải thành lập hội đồng và giao Chính phủ quy định thủ tục tiêu hủy.

Luật có hiệu lực từ ngày 01/03/2026.

4. Nghị định số 336/2025/NĐ-CP: Siết chặt xử lý vi phạm trong hoạt động đường bộ

Ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần hoàn thiện khung pháp luật về giao thông đường bộ, đáp ứng yêu cầu tăng cường kỷ cương, trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông trong giai đoạn hiện nay.

Nghị định số 336/2025/NĐ-CP gồm 5 chương, 23 điều, quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ. Đối tượng áp dụng là cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một trong những điểm nổi bật của Nghị định là quy định mức xử phạt tiền với tính răn đe cao, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ là 75 triệu đồng, đối với tổ chức là 150 triệu đồng. Cùng với hình thức phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Nghị định số 336/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Các biện pháp bao gồm buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính; buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng trái phép; buộc trả lại đất đã lấn chiếm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp này góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm tái diễn.

Đáng chú ý, Nghị định dành dung lượng lớn để quy định xử phạt các hành vi vi phạm liên quan đến kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hành lang an toàn đường bộ. Các hành vi như lấn chiếm đất dành cho đường bộ, tự ý xây dựng công trình, đặt biển quảng cáo, tập kết vật liệu trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ đều bị xử lý nghiêm, kèm theo yêu cầu khôi phục nguyên trạng, bảo đảm an toàn giao thông và giữ gìn mỹ quan đô thị.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cụ thể việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong đào tạo, sát hạch lái xe; kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; hoạt động thu phí và thanh toán điện tử giao thông. Những hành vi gian lận trong đào tạo, sát hạch; vi phạm điều kiện kinh doanh vận tải; không thực hiện đúng quy trình thu phí, thanh toán điện tử đều được quy định rõ mức xử phạt và biện pháp khắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Nghị định số 336/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/03/2026.

5. Minh bạch hóa hoạt động quỹ xã hội, quỹ từ thiện từ ngày 1/3/2026

Ngày 09/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, với nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao tính minh bạch, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa thiện nguyện để trục lợi.

5.1. Phân định rõ quỹ xã hội và quỹ từ thiện

Một trong những điểm nổi bật của Nghị định 03/2026/NĐ-CP là đã phân biệt rõ ràng giữa quỹ xã hội và quỹ từ thiện, khắc phục tình trạng nhập nhằng khái niệm tồn tại trong thực tiễn thời gian qua.

Theo đó, quỹ xã hội là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện góp một phần tài sản để thành lập. Quỹ xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm hỗ trợ và khuyến khích phát triển các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ tài nguyên và môi trường, an sinh xã hội và cộng đồng.

Trong khi đó, quỹ từ thiện cũng là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản để thành lập, song mục tiêu hoạt động tập trung vào từ thiện, nhân đạo, hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn, cũng như trợ giúp các đối tượng yếu thế, hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.

Việc xác định rõ phạm vi, mục tiêu của từng loại quỹ được kỳ vọng sẽ giúp công tác quản lý Nhà nước hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý minh bạch để các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xã hội, thiện nguyện đúng định hướng.

5.2. Mở cửa có kiểm soát với yếu tố nước ngoài

Theo Nghị định, quỹ chỉ được phép hoạt động khi đã có giấy phép thành lập và điều lệ được công nhận; đã công bố việc thành lập theo quy định; có xác nhận của ngân hàng về việc các sáng lập viên đã nộp đủ số tiền cam kết vào tài khoản của quỹ và hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với các tài sản khác. Đồng thời, quỹ phải được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận đủ điều kiện hoạt động và công nhận Hội đồng quản lý quỹ.

Đáng chú ý, Nghị định cho phép cá nhân, tổ chức nước ngoài được góp tài sản cùng công dân, tổ chức Việt Nam để thành lập quỹ tại Việt Nam. Tuy nhiên, cơ chế “mở cửa” này đi kèm với những ràng buộc chặt chẽ về nghĩa vụ thuế, trách nhiệm đối với tính hợp pháp của tài sản, cam kết tuân thủ pháp luật Việt Nam và mục đích hoạt động của quỹ.

Phần tài sản đóng góp của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được vượt quá 50% tổng giá trị tài sản hình thành quỹ. Quy định này nhằm bảo đảm vai trò chủ đạo của phía Việt Nam, giữ vững định hướng xã hội, đồng thời hạn chế nguy cơ bị chi phối hoặc lợi dụng yếu tố nước ngoài trong hoạt động của các quỹ.

5.3. Hàng loạt hành vi bị nghiêm cấm

Để ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa quỹ xã hội, quỹ từ thiện nhằm trục lợi hoặc vi phạm pháp luật, Nghị định đã liệt kê nhiều hành vi bị nghiêm cấm, như: hoạt động trái tôn chỉ, mục đích của quỹ; gây ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc.

Nghị định số 03/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xã hội, từ thiện.

Nghị định cũng nghiêm cấm các hành vi xâm hại đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục; tư lợi, gian dối, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, lập chứng từ không đúng thực tế; trốn thuế, gian lận thuế; rửa tiền, tài trợ khủng bố; làm giả, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn giấy phép thành lập quỹ; nhận tiền gửi, cho vay, góp vốn đầu tư; cũng như sử dụng ngân sách Nhà nước hoặc tài sản có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để góp vốn thành lập quỹ.

Với 6 chương, 56 điều, Nghị định số 03/2026/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, được kỳ vọng tạo khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, minh bạch, góp phần phát huy giá trị nhân văn của hoạt động xã hội, thiện nguyện, đồng thời ngăn chặn những biến tướng gây bức xúc trong dư luận thời gian qua.

- HẾT –

Tệp đính kèm:

Xem nhiều nhất