Chính sách pháp luật quan trọng có hiệu lực trong tháng 08 năm 2026
Trong tháng 08/2026 có hàng loạt chính sách mới quan trọng, thiết thực đối với đời sống hằng ngày có hiệu lực:
Chính sách pháp luật quan trọng
có hiệu lực trong tháng 08 năm 2026
(Tài liệu phổ biến trong sinh hoạt Ngày pháp luật tháng 08 năm 2026)
Trong tháng 08/2026 có hàng loạt chính sách mới quan trọng, thiết thực đối với đời sống hằng ngày có hiệu lực:
1. Vợ và chồng có chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân
Lĩnh vực đất đai có điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 281/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ 31/8/2026. Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
1.1. Chủ tịch UBND cấp xã được phạt đến 250 triệu đồng
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất tại Nghị định 281/2026/NĐ-CP là tăng thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch UBND cấp xã.
Theo quy định mới, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 250 triệu đồng;
- Đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong thời hạn 03 tháng;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
Trước đây, Chủ tịch UBND cấp xã chỉ có quyền phạt tiền đến 05 triệu đồng và chỉ được áp dụng hai biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất và buộc khôi phục tình trạng ban đầu của mốc địa giới hành chính.
Như vậy, từ ngày 31/8/2026, mức phạt tiền tối đa thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã tăng từ 05 triệu đồng lên 250 triệu đồng - tăng gấp 50 lần so với quy định cũ.
Đồng thời, Nghị định 281 của Chính phủ bãi bỏ toàn bộ khoản 2 Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện, phù hợp với việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp.
Lưu ý, mức phạt tiền theo thẩm quyền nêu trên áp dụng đối với một hành vi vi phạm của cá nhân; thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân.
1.2. Quy định mức xử phạt vi phạm đất đai tại đặc khu
Căn cứ Điều 1 Nghị định 281/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 3a vào Nghị định 123/2024/NĐ-CP, trong đó quy định nguyên tắc xác định mức xử phạt vi phạm hành chính về đất đai tại đặc khu, như sau:
- Áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính phường đối với đặc khu được công nhận loại đô thị và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng với chính quyền địa phương ở phường
- Áp dụng mức xử phạt như đơn vị hành chính xã đối với đặc khu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng với chính quyền địa phương ở xã.
Quy định này nhằm xác định rõ mức phạt áp dụng tại đặc khu trong trường hợp Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định mức phạt khác nhau giữa địa bàn xã và địa bàn phường.
1.3. Vợ chồng chung quyền sử dụng đất được xử phạt như một cá nhân
Khoản 2 Điều 3a được bổ sung vào Nghị định 123 năm 2024 của Chính phủ quy định:
Vợ và chồng chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân.
Như vậy, khi quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng, việc xác định mức phạt hành chính được thực hiện như đối với một cá nhân, thay vì xử phạt riêng đối với từng người hoặc xử phạt như đối với tổ chức.
Đây là một trong những điểm mới được quy định trực tiếp trong Nghị định 281 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
1.4. Thu hẹp các hành vi bị xử phạt về hoạt động dịch vụ đất đai
Theo khoản 4 Điều 9 Nghị định 281/2026/NĐ-CP bãi bỏ nhiều quy định tại Điều 29 Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm điều kiện hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai.
Theo đó, bãi bỏ quy định xử phạt đối với các nhóm hành vi sau:
- Cá nhân hành nghề tư vấn xác định giá đất không đáp ứng điều kiện;
- Cá nhân hành nghề tư vấn xác định giá đất độc lập, không thuộc tổ chức tư vấn xác định giá đất;
- Tổ chức tư vấn điều tra, đánh giá đất đai không đáp ứng điều kiện;
- Tổ chức tư vấn xác định giá đất không đáp ứng điều kiện;
- Tổ chức tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đáp ứng điều kiện;
- Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về giá đất không bảo đảm điều kiện.
Nghị định cũng bãi bỏ các hình thức xử phạt bổ sung tương ứng như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động từ 09 tháng đến 12 tháng.
1.5. Bổ sung 04 biện pháp khắc phục hậu quả
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 281/2026/NĐ-CP bổ sung 04 biện pháp vào danh mục các biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, gồm:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính;
- Buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai;
- Buộc nộp lại giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả đã sử dụng.
Bên cạnh đó, Nghị định 281/2026/NĐ-CP bãi bỏ biện pháp buộc thực hiện thủ tục để được phê duyệt dự án chăn nuôi tập trung có quy mô lớn trước đây được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
1.6. Được trừ khoản tiền đã nộp vào ngân sách khi tính số lợi bất hợp pháp
Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP bổ sung nguyên tắc: Trường hợp người vi phạm đã nộp các khoản tiền vào ngân sách nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được khấu trừ các khoản tiền đã nộp.
Bên cạnh đó, trong trường hợp hành vi vi phạm do nhiều tổ chức, các nhân cùng thực hiện trên cùng một thửa đất thì số lợi bất hợp pháp phải nộp được chia đều cho các tổ chức, cá nhân cùng vi phạm.
Trước đây, điểm đ khoản 2 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP chỉ quy định việc trừ số tiền đã nộp vào ngân sách đối với một số hành vi như:
- Chuyển quyền sử dụng đất;
- Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
- Chuyển quyền thuê trong hợp đồng thuê đất.
1.7. Bổ sung trường hợp không bị phạt do không đăng ký biến động đất đai
Khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 02 - 03 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai thuộc các trường hợp luật định.
Theo quy định mới, Nghị định 281 bổ sung trường hợp ngoại lệ đối với người nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo Điều 127 Luật Đất đai.
Theo đó, trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận theo Điều 127 Luật Đất đai sẽ không bị áp dụng mức phạt từ 02 - 03 triệu đồng về hành vi không đăng ký biến động đất đai theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, khi:
- Trường hợp đã lập biên bản trước ngày 31/8/2026 nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt thì không xử phạt;
- Trường hợp đã có quyết định xử phạt từ ngày 31/01/2026 đến trước ngày 31/8/2026 nhưng người vi phạm chưa thực hiện thì không tiếp tục thực hiện quyết định đó.
1.8. Thay đổi biện pháp xử lý đối với giấy tờ đất bị tẩy xóa, giấy tờ giả
Theo Điều 5 Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 27 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, quy định cụ thể các biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất.
Cụ thể:
- Buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch giấy tờ và hành vi khai báo không trung thực;
- Hủy bỏ kết quả giải quyết thủ tục hành chính về đất đai đối với trường hợp sử dụng giấy tờ giả;
- Buộc nộp lại giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả đã sử dụng.
Trong khi đó, Nghị định 123/2024/NĐ-CP chỉ quy định hủy bỏ kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai đối với trường hợp sử dụng giấy tờ giả.
Đồng thời, Nghị định 281 năm 2026 bãi bỏ hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả. Thay vào đó, việc buộc nộp lại các giấy tờ này được xác định là biện pháp khắc phục hậu quả.
1.9. Điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của cơ quan kiểm tra về đất đai
Tại Điều 7 Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi một số khoản của Điều 31, quy định thẩm quyền phạt tiền đến 400 triệu đồng của các chức danh sau:
- Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành về đất đai do Cục trưởng Cục Quản lý đất đai thành lập;
- Trưởng đoàn kiểm tra do thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra thành lập;
- Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Trong khi đó, quy định cũ giao thẩm quyền phạt tiền đến 50 triệu đồng cho nhóm chức danh gồm Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành đất đai, Trưởng đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Sở thành lập và Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường.
Nghị định mới đồng thời cập nhật thẩm quyền của Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và các trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng thành lập.
1.10. Mở rộng thẩm quyền của công an
Theo khoản 5 Điều 7 Nghị định 281 năm 2026, các chức danh thuộc lực lượng Công an nhân dân có thẩm quyền được xử phạt đối với một số hành vi vi phạm cụ thể như:
- Vi phạm về sử dụng đất an ninh;
- Vi phạm về sử dụng đất sai mục đích;
- Lấn đất, chiếm đất;
- Cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng đất của người khác;
- Sử dụng giấy tờ giả trong thủ tục đất đai;
- Vi phạm về cung cấp thông tin đất đai.
Trước đây, Nghị định 123/2024/NĐ-CP chỉ quy định các chức danh Công an được xử phạt theo thẩm quyền đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả tại khoản 3 Điều 27.
Ngoài ra, Nghị định mới cũng cập nhật danh sách người có quyền lập biên bản vi phạm hành chính, bao gồm:
- Trưởng đoàn, thành viên đoàn thanh tra;
- Trưởng đoàn, thành viên đoàn kiểm tra chuyên ngành đất đai;
- Trưởng đoàn, thành viên đoàn kiểm tra do thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập;
- Công chức, viên chức đang thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai;
- Công chức, viên chức kiểm lâm đối với vi phạm liên quan đến đất lâm nghiệp;
- Người thuộc lực lượng Công an nhân dân đối với vi phạm trong lĩnh vực đất đai;
- Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân đối với vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng.
2. Phạt cảnh cáo đối với người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em theo quy định
Căn cứ theo quy định hiện hành tại điểm m khoản 3 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP (áp dụng từ 01/7/2026 theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Nghị định 168/2024/NĐ-CP) quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô ngồi cùng hàng ghế với người lái xe (trừ loại xe ô tô chỉ có một hàng ghế) hoặc không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em theo quy định.
Tuy nhiên, ngày 26/6/2026 thì Chính phủ đã ban hành Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP từ 15/8/2026, cụ thể:
- Bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP như sau:
Phạt cảnh cáo đối với người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em theo quy định (trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách).
- Sửa đổi, bổ sung điểm m khoản 3 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP như sau:
Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô ngồi cùng hàng ghế với người lái xe (trừ xe ô tô chỉ có một hàng ghế)
Như vậy, theo quy định mới từ 15/8/2026, trừ xe ôtô kinh doanh vận tải, thì các loại xe ô tô gia đình, ô tô cá nhân còn lại bắt buộc phải lắp ghế an toàn khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35 mét. Trường hợp vi phạm sẽ bị phạt cảnh cáo, mức nhẹ nhất trong xử phạt vi phạm hành chính ở lĩnh vực giao thông.
Trường hợp để trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô ngồi cùng hàng ghế với tài xế (trừ xe ô tô chỉ có một hàng ghế) thì tài xế sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
3. Từ ngày 1/8/2026 hành vi không đeo rọ mõm cho chó hoặc không xích giữ chó, không có người dắt khi đưa chó ra nơi công cộng có thể bị phạt tới 2 triệu đồng
Ngày 11/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thú y. Nghị định này quy định về các hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực thú y.
3.1. Phân loại rõ đối tượng áp dụng là Hộ kinh doanh
Một trong những điểm mới quan trọng là việc Nghị định 204 quy định cụ thể đối tượng hộ kinh doanh, hộ gia đình.
Điểm mới: Nghị định 204 quy định mức phạt tiền đối với hộ kinh doanh và hộ gia đình được áp dụng như đối với cá nhân.
Quy định cũ: Nghị định 90 chỉ quy định chung về "tổ chức, cá nhân" mà không nêu rõ mức phạt cho hộ kinh doanh.
3.2. Kéo dài thời hiệu xử phạt lên 02 năm
Nghị định 204 đã mở rộng nhóm các hành vi có thời hiệu xử phạt dài hơn nhằm tăng tính răn đe:
Thời hiệu 02 năm: Áp dụng đối với các vi phạm về phòng, khống chế dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y và các lĩnh vực liên quan đến xuất nhập khẩu.
Quy định cũ: Thông thường áp dụng thời hiệu 01 năm theo quy định chung của Luật Xử lý vi phạm hành chính (trừ một số lĩnh vực đặc thù liên quan đến xuất nhập khẩu).
3.3. Công thức tính "Số lợi bất hợp pháp" cụ thể
Nghị định 204 bổ sung cơ chế tính toán định lượng rất chi tiết cho biện pháp "buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp", giúp quá trình thực thi minh bạch hơn:
Công thức: Số lợi bất hợp pháp = (Số lượng hàng hóa đã tiêu thụ) x (Đơn giá) - (Chi phí trực tiếp).
Cách xác định đơn giá: Dựa trên hồ sơ, chứng từ của người vi phạm; trường hợp không có hồ sơ thì xác định theo giá thị trường của hàng hóa tương đương tại thời điểm phát hiện vi phạm.
Quy định cũ: Nghị định 90 có đề cập đến biện pháp này nhưng không đưa ra công thức tính toán và hướng dẫn xác định đơn giá cụ thể trong phần quy định chung.
3.4. Bổ sung thẩm quyền cho "Đặc khu" và các lực lượng mới
Nghị định 204 cập nhật thẩm quyền xử phạt để phù hợp với các mô hình hành chính và tổ chức mới:
Thẩm quyền cấp xã: Bổ sung thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu (bên cạnh xã và phường).
Lực lượng Công an: Quy định chi tiết thẩm quyền cho các lực lượng chuyên biệt như An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Cảnh sát cơ động.
Thẩm quyền của các Trưởng đoàn kiểm tra: Bổ sung thẩm quyền cho Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Cục trưởng chuyên ngành thành lập.
3.5. Xử lý vi phạm trên môi trường điện tử
Điểm mới hoàn toàn: Nghị định 204 lần đầu tiên quy định việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y trên môi trường điện tử. Việc này được thực hiện theo quy định tại Nghị định 118/2021/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về quản lý môi trường điện tử.
3.6. Siết chặt quản lý giấy phép bị tẩy xóa, làm giả
Nghị định 204 bổ sung quy trình xử lý rất nghiêm đối với các loại giấy phép, chứng chỉ bị tác động trái phép:
Biện pháp khắc phục: Buộc nộp lại các loại Giấy chứng nhận (an toàn dịch bệnh, kiểm dịch, GMP, thực hành tốt sản xuất...) hoặc Chứng chỉ hành nghề thú y nếu bị tẩy xóa, sửa chữa, mua bán, cho thuê, cho mượn.
Người có thẩm quyền xử phạt phải gửi văn bản thông báo về việc áp dụng biện pháp này đến cơ quan đã cấp giấy phép đó (trừ trường hợp giấy phép do nước ngoài cấp).
Nghị định 204/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2026 và thay thế Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y .
4. Từ ngày 01/08/2026, Không được mang điện thoại, máy tính bảng có chức năng ghi hình vào phiên tòa nếu chưa được phép.
Ngày 30/5/2026, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2026 và thay thế Thông tư số 02/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 .
Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC có những điểm mới như sau:
4.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư 02/2017/TT-TANDTC chỉ tập trung vào việc tổ chức phiên tòa xét xử các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, phá sản và biện pháp xử lý hành chính, còn Thông tư 12/2026/TT-TANDTC mở rộng phạm vi áp dụng cho cả phiên tòa và phiên họp. Ngoài các loại phiên tòa như trước, Thông tư 12/2026/TT-TANDTC liệt kê chi tiết các loại phiên họp như: phiên họp giải quyết việc dân sự, kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải/đối thoại, phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, khiếu nại.
4.2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa, phiên họp
Cả Thông tư đều nhấn mạnh việc tổ chức đúng thời gian, địa điểm, thành phần; đảm bảo công khai (trừ trường hợp xử kín); bảo đảm an ninh, trật tự và sự tôn nghiêm của Tòa án, tuy nhiên Thông tư 12/2026/TT-TANDTC bổ sung thêm nguyên tắc về việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Đối với các vụ việc có người chưa thành niên, Thông tư 12/2026/TT-TANDTC quy định quy trình phải bảo đảm đơn giản, thân thiện, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ.
4.3. Nội quy phiên tòa, phiên họp
Nhìn chung, Nội quy tại Thông tư 12/2026/TT-TANDTC có nhiều điểm mới và khắt khe hơn nhằm bảo đảm sự tôn nghiêm và an ninh như:
Kiểm tra an ninh: Yêu cầu mọi người khi đến tham gia phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời hoặc căn cước công dân và chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng chức năng; Về sử dụng thiết bị điện tử: Thông tư 02/2017/TT-TANDTC quy định chung về việc Tòa án ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật tố tụng còn Thông tư 12/2026/TT-TANDTC quy định cực kỳ chi tiết tại Điều 4, trong đó nghiêm cấm mang các thiết bị truyền đưa, thu thập, xử lý dữ liệu (điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh...) vào phiên tòa/phiên họp nếu không được Thẩm phán chủ tọa cho phép. Việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu hoặc xét xử trực tuyến phải theo sự điều hành của Thẩm phán.
Ghi âm, ghi hình:
Thông tư 12/2026/TT-TANDTC Phân tách rõ ràng giữa ghi âm và ghi hình. Việc ghi âm lời nói được thực hiện trong suốt diễn biến phiên tòa; nhưng việc ghi hình ảnh tại các thời điểm khai mạc, tuyên án hoặc công bố quyết định phải được sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa. Việc ghi hình ảnh những người tham gia tố tụng khác cũng cần sự đồng ý của họ và Thẩm phán.
Cấm livestream: Nghiêm cấm truyền phát trực tiếp (livestream), trực tuyến; không được đưa thông tin sai sự thật hoặc ảnh hưởng đến sự độc lập của Tòa án.
4.4. Việc Tòa án thực hiện ghi âm, ghi hình
Đây là nội dung mới được bổ sung. Thông tư 12/2026/TT-TANDTC bổ sung riêng Điều 7 quy định về việc Tòa án chủ động ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa phục vụ nhiệm vụ chuyên môn như: Rút kinh nghiệm trong thực tiễn xét xử; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
Việc cung cấp các dữ liệu này cho cơ quan, tổ chức khác phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ về tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4.5. Hình thức niêm yết nội quy
Thông tư 12/2026/TT-TAND đa dạng các hình thức công khai, cụ thể Nội quy phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án, Cổng thông tin điện tử của Tòa án và hình thức công khai khác thuận lợi cho người tham gia tiếp cận.
Thông tư 12/2026/TT-TANDTC có hiệu lực từ ngày 01/08/2026.
- HẾT –