Nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ
1. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động SHTT
Quán triệt tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Luật số 131/2025/QH15 đã rút ngắn đáng kể thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp, đơn giản hóa thủ tục xác lập, đăng ký quyền, đồng thời quy định một số biện pháp để bảo đảm thực hiện các yêu cầu mới về thời hạn này, cụ thể:
Thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp ở mỗi khâu đều giảm, đáng chú ý nhất là thời hạn thẩm định nội dung đơn sáng chế đã giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng, đơn nhãn hiệu giảm từ 09 tháng xuống 05 tháng, đơn kiểu dáng công nghiệp giảm từ 07 tháng xuống 05 tháng, thời gian công bố đơn giảm từ 02 tháng xuống còn 01 tháng... Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định về cơ chế thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu (thẩm định nội dung trong thời hạn 03 tháng khi đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định). Hiện chỉ một số rất ít quốc gia có cơ chế thẩm định nội dung đơn nhanh dưới 03 tháng.
Luật yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, đơn giản hóa quy trình xử lý đơn, tăng cường hậu kiểm, ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo để thực hiện được các quy định về thời hạn trên, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động SHTT.
2. Thúc đẩy khai thác thương mại quyền SHTT
Luật đã quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền SHTT nhằm biến quyền SHTT thành tài sản sinh lời, góp phần phát triển kinh tế - xã hội; quy định rõ chủ sở hữu được sử dụng quyền SHTT để thực hiện giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư,… theo quy định của pháp luật cũng như chính sách khuyến khích khai thác quyền SHTT, sử dụng quyền SHTT để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn.
Để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho các hoạt động khai thác thương mại quyền SHTT, Luật cũng quy định hình thành cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền SHTT để minh bạch thị trường, phát triển tổ chức trung gian (định giá, môi giới,)…
Luật cũng đã quy định trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với quyền SHTT chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán. Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen quản lý quyền SHTT như một tài sản quan trọng. Tình trạng quên không thực hiện việc duy trì hoặc gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ vẫn còn khá phổ biến. Đây là những nội dung khởi đầu của bước chuyển trọng tâm từ “bảo hộ quyền” sang “khai thác, sử dụng quyền như một tài sản có giá trị”, giảm tình trạng “bằng độc quyền để treo”, mở rộng nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
3. Bảo hộ đối tượng mới Luật mở rộng bảo hộ cho một số đối tượng mới, cụ thể:
- Bổ sung cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho phần không tách rời được của sản phẩm (bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần) và mở rộng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý (ví dụ: giao diện đồ họa người dùng (GUI), icon, v.v);
- Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.
4. Xử lý vấn đề mới phát sinh
Luật số 131/2025/QH15 lần này cũng đưa ra những quy định để xử lý một số vấn đề phát sinh do sự phát triển của công nghệ, nổi bật là các vấn đề liên quan đến hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), cụ thể:
- Quy định khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả và tuân thủ các quy định của Chính phủ;
- Quy định về vấn đề bảo hộ SHTT đối với đối tượng do AI tạo ra hoặc có sử dụng AI trong quá trình tạo ra, cụ thể là:
+ Bổ sung quy định từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện chủ thể tạo ra không phải là con người, phù hợp với chính sách chỉ bảo hộ quyền SHTT cho các đối tượng do con người tạo ra (tác giả là con người);
+ Giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với đối tượng quyền SHTT được tạo ra có sử dụng AI. Bên cạnh đó, về vấn đề đăng ký nhãn hiệu chứa tên quốc gia Việt Nam, Luật cũng đã bổ sung quy định kiểm soát việc đăng ký đối với nhãn hiệu này.
5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT
Luật bổ sung thêm các chế tài, biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số, quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền SHTT; đồng thời nâng mức bồi thường thiệt hại theo luật định để tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn.
Dự báo tác động chính sách đến người dân và xã hội
- Tác động đối với hệ thống pháp luật: Luật số 131/2025/QH15 khắc phục các vấn đề còn hạn chế, tồn tại của Luật SHTT số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/6/2009, Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019, Luật số 07/2022/QH15 ngày 16/6/2022, Luật số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025 (chưa có những quy định cụ thể về các biện pháp để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho việc khai thác thương mại quyền SHTT; các quy định về thủ tục cấp quyền SHTT còn phức tạp, thời gian thực hiện kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu về đơn giản hóa, cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính về SHTT; quy định về bảo vệ quyền còn chưa đủ mạnh, thiếu tính răn đe, nguồn lực hỗ trợ công tác bảo vệ quyền còn hạn chế; phạm vi bảo hộ sở hữu công nghiệp còn hẹp, chưa xử lý được các vấn đề phát sinh từ xu hướng mới trong phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, v.v.).
Luật đảm bảo đồng bộ hệ thống pháp luật, đặc biệt là các luật mới được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung (Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật An ninh mạng, Luật Thương mại điện tử, v.v.).
- Tác động về kinh tế - xã hội: Luật sẽ thúc đẩy các hoạt động tạo ra, xác lập, bảo vệ và khai thác các đối tượng quyền SHTT, góp phần thực hiện mục tiêu phục vụ nhân dân, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, văn hóa – xã hội, nhằm phát huy hiệu quả giá trị của việc bảo hộ quyền SHTT trong thực tiễn. Những quy định mới trong Luật giúp các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân được tạo điều kiện thuận lợi hơn khi thực hiện thủ tục đăng ký quyền SHTT, có khả năng được cấp văn bằng bảo hộ sớm hơn do thời gian xử lý đơn đã được rút ngắn, có cơ hội được bảo hộ rộng hơn do Luật đã mở rộng các đối tượng bảo hộ quyền SHTT (như bảo hộ cho kiểu dáng công nghiệp riêng phần và kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý, bảo hộ cho tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa). Việc khai thác thương mại quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy. Quyền SHTT được bảo hộ đầy đủ và hiệu quả hơn, kể cả trên môi trường thực và môi trường kỹ thuật số. Thông qua đó, các doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng doanh thu, lợi nhuận, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần tăng trưởng GDP của đất nước nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đồng thời, các quy định của Luật cũng góp phần phát triển thị trường tài sản trí tuệ trong nước, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
- Tác động đến thủ tục hành chính: Luật không phát sinh thủ tục hành chính mới và không giảm số lượng thủ tục hành chính do đây là các thủ tục cần thiết để tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu bảo hộ quyền SHTT, phù hợp với yêu cầu của cam kết quốc tế. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung các quy định về thời gian xử lý (rút ngắn thời gian xử lý), cách thức tiếp nhận, v.v, đồng thời chuyển các quy định chi tiết xuống văn bản dưới luật nhằm bảo đảm tính ổn định của Luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW, phù hợp với mục tiêu về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính (các quy định về thủ tục hành chính phải được rà soát thường xuyên và sửa đổi ngay khi có vướng mắc), tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong thực hiện các thủ tục đăng ký, xác lập quyền SHTT.
Bên cạnh đó, Luật cũng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT nhằm bảo đảm thống nhất với các nội dung về phân cấp, phân quyền cho địa phương thực hiện các thủ tục hành chính đã được quy định trong các văn bản pháp luật.
- Tác động đối với việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Luật đã thể hiện được định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thông qua các quy định về chính sách “khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác, phát triển đối tượng quyền SHTT”, quy định “thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ”, “Nhà nước đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ”, v.v. (các Điều 8, 11b của Luật).
Những quy định này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý nhà nước về SHTT, mà còn mở rộng cơ hội cho tổ chức, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tận dụng công nghệ số để gia tăng giá trị và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Tác động về giới và dân tộc: Các quy định của Luật được áp dụng chung cho tất cả các tổ chức, cá nhân, không có quy định về đối xử khác nhau về giới và dân tộc, do vậy đáp ứng yêu cầu về bảo đảm bình đẳng giới và chính sách dân tộc. Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định Nhà nước hỗ trợ việc tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản lý, phát triển đối tượng quyền SHTT, đặc biệt là đối tượng quyền SHTT của đồng bào dân tộc thiểu số
Những vấn đề người dân cần lưu ý khi thực hiện
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, các tổ chức, cá nhân cũng cần lưu ý rằng Luật đã bổ sung các quy định nhằm tăng cường bảo vệ quyền SHTT, như tăng cường các biện pháp xử lý xâm phạm trên không gian mạng, nâng cao mức bồi thường thiệt hại theo luật định, do vậy cần lưu ý để tránh các hành vi xâm phạm quyền SHTT, giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và các thiệt hại khác. Bên cạnh đó, các cơ sở hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ cũng được quy định bổ sung trong Luật, do vậy chủ sở hữu văn bằng bảo hộ, các tổ chức, cá nhân yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ văn bằng bảo hộ có thể phát sinh thêm thời gian, chi phí trong quá trình theo đuổi vụ việc chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực (chi phí thuê luật sư tư vấn, chi phí trưng cầu giám định, ý kiến chuyên gia…).
Việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT để bảo đảm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để tạo hành lang vững chắc và thuận lợi cho hoạt động bảo hộ, bảo vệ và tuân thủ quyền SHTT, đặc biệt đối với một số lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng, lợi thế; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường SHTT đáp ứng nhu cầu khai thác thương mại quyền SHTT, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, uy tín của sản phẩm quốc gia và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo động lực để phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi cho việc nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới; pshục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong tình hình mới./.
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.